A. Các biện pháp tu từ được cấu tạo theo quan hệ liên tưởng
Ðặc điểm chung của những biện pháp thuộc nhóm này là trong văn cảnh cụ thể, từ ngữ có hiện tượng chuyển đổi ý nghĩa lâm thời. Tức là, nghĩa của từ ngữ vốn biểu thị đối tượng này được lâm thời chuyển sang biểu thị đối tượng khác, dựa trên cơ sở của hai mối quan hệ liên tưởng : liên tưởng tương đồng và logic khách quan. Mặc dù so sánh không phải là hiện tượng chuyển nghĩa nhưng nó là cơ sở của nhiều biện pháp tu từ trong nhóm này.
I- So Sánh
1- Khái niệm:
So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng có một nét tương đồng nào đó về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe. Ví dụ:
Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. ( Ca dao )
Cần phân biệt so sánh tu từ với so sánh luận lí. Dù đều là thao tác đối chiếu giữa hai hay nhiều đối tượng với nhau nhưng hai loại so sánh này lại có sự khác nhau về chất. Nếu so sánh tu từ là sự đối chiếu giữa các đối tượng khác loại thì so sánh luận lí là sự đối chiếu giữa các đối tượng cùng loại. Nếu so sánh tu từ nhằm mục đích gợi lên một cách hình ảnh đặc điểm giữa các đối tượng từ đó tạo nên xúc cảm thẩm mĩ trong nhận thức của người tiếp nhận thì so sánh luận lí đơn thuần chỉ cho ta thấy sự ngang bằng hay hơn kém giữa các đối tượng đấy mà thôi.Ví dụ :
So sánh tu từ So sánh luận lí
- Ðôi ta như cá ở đìa
Ngày ăn tản lạc, tối dìa ngủ chung
- Ðứt tay một chút chẳng đau
Xa nhau một chút như dao cắt lòng.
- Khôi đã cao bằng mẹ.
- Con hơn cha nhà có phúc.
- Nam học giỏi như Bắc.
2- Cấu tạo:
2.1- Hình thức: Bao giờ cũng công khai phô bày hai vế :
- Vế so sánh
- Vế được so sánh.
Ở dạng thức đầy đủ nhất, so sánh tu từ gồm có bốn yếu tố:


Vế so sánh Cơ sở so sánh
Từ so sánh Vế được so sánh
(1) (2) (3) (4)
Gái có chồng như gông đeo cổ
Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân
*A bao nhiêu B bấy nhiêu:
Qua đình ngả nón trông đình
Ðình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu. ( Ca dao)
* A là B :
Em là gái trong song cửa
Anh là mây bốn phương
Anh theo cánh gió chơi vơi
Em vẫn nằm trong nhung lụa.
( Một mùa đông -Lưu Trọng Lư)
* A ( ẩn từ so sánh) B: Tấc đất, tấc vàng
2.2- Nội dung: Các đối tượng nằm trong hai vế là khác loại nhưng lại có nét tương đồng nào đó, tạo thành cơ sở cho so sánh tu từ. Nếu nét giống nhau này thể hiện ra cụ thể bằng từ ngữ ( cơ sở giống nhau) thì ta có so sánh nổi; nếu nét giống nhau này không thể hiện ra cụ thể bằng từ ngữ thì ta có so sánh chìm.
3- Chức năng :
So sánh tu từ có hai chức năng là nhận thức và biểu cảm.Biện pháp tu từ này được vận dụng rộng rãi trong nhiều phong cách khác nhau như :khẩu ngữ, chính luận, thông tấn, văn chương,...
II- Ẩn dụ tu từ :
1- Khái niệm: Ẩn dụ là cách lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng này để chỉ đối tượng kia dựa vào nét tương đồng giữa hai đối tượng. Ví dụ:
Tưởng nước giếng sâu nối sợi dây dài
Ai ngờ giếng cạn tiếc hoài sợi dây.
( Ca dao )
2- Cấu tạo:
2.1- Hình thức: Ẩn dụ tu từ chỉ phô bày một đối tượng- đối tượng dùng để biểu thị- còn đối tượng định nói đến- được biểu thị- thì dấu đi, ẩn đi, không phô ra như so sánh tu từ.
2.2- Nội dung: Ẩn dụ tu từ cũng giống như so sánh tu từ (do đó người ta còn gọi là so sánh ngầm), nghĩa là cần phải liên tưởng rút ra nét tương đồng giữa hai đối tượng. Những mối quan hệ liên tưởng tương đồng thường được dùng để cấu tạo ẩn dụ tu từ là: tương đồng về màu sắc, tương đồng về tính chất, tương đồng về trạng thái, tương đồng về hành động, tương đồng về cơ cấu...
3- Chức năng : Ẩn dụ tu từ có hai chức năng: biểu cảm và nhận thức. Biện pháp tu từ này cũng được dùng rộng rãi trong các phong cách ngôn ngữ tiếng Việt.
III- Nhân hoá :
1- Khái niệm: Nhân hoá là một biến thể của ẩn dụ tu từ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị những thuộc tính, hoạt động của người dùng để biểu thị hoạt động của đối tượng khác loại dựa trên nét tương đồng về thuộc tính, về hoat động giữa người và đối tượng không phải là người. Ví dụ:
Những chị luá phất phơ bím tóc
Những cây tre bá vai nhau thì thầm đứng học
Ðàn cò trắng
Khiêng nắng qua sông.
( Trần Ðăng Khoa )
2- Cấu tạo :
2.1- Hình thức:
+ Dùng những từ chỉ tính chất, hoạt động của người để biểu thị những tính chất, hoạt động của đối tượng không phải là người. Ví dụ:
Ðây những tháp gầy mòn vì mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới thời gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối
Những tượng đài lở lói rỉ rên than.
( Chế Lan Viên)
+ Xem đối tượng không phải là người như con người để tâm tình trò chuyện. Ví dụ:
Ðêm nằm than thở, thở than
Gối ơi hỡi gối, bạn lan đâu rồi?
( Ca dao)
2.2- Nội dung: Dựa trên sự liên tưởng nhằm phát hiện ra nét giống nhau giữa đối tượng không phải là người và người.
3- Chức năng: Nhân hoá có hai chức năng: nhận thức và biểu cảm. Nhân hoá được dùng rộng rãi trong các phong cách : khẩu ngữ, chính luận,văn chương.
Ngoài ra còn có biện pháp vật hoá. Ðó là cách dùng các từ ngữ chỉ thuộc tính, hoạt động của loài vật, đồ vật sang chỉ những thuộc tính và hoạt động của con người. Biện pháp này thường được dùng trong khẩu ngữ và trong văn thơ châm biếm. Ví dụ:
Gái chính chuyên lấy được chín chồng
Vo viên bỏ lọ gánh gồng đi chơi,
Ai ngờ quang đứt lọ rơi
Bò ra lổm ngổm chín nơi chín chồng.
( Ca dao)
IV- Phúng dụ:
1- Khái niệm: Phúng dụ là hệ thống những ẩn dụ, nhân hoá được sử dụng để biểu đạt một nội dung triết lí hay bài học luân lí mà người nói không muốn trình bày trực tiếp
Ví dụ:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
( Ca dao )
2- Cấu tạo:
2.1- Hình thức: Chỉ có một vế biểu hiện như ẩn dụ và nhân hoá.
2.2- Nội dung: Ẩn dụ chỉ có một nghĩa. Phúng dụ bao giờ cũng được hiểu ở cả hai bình diện nghĩa : ý nghĩa trực tiếp và ý nghĩa gián tiếp, trong đó ý nghĩa trực tiếp là phương tiện biểu đạt còn ý nghĩa gián tiếp là mục đích biểu đạt.
3- Chức năng : Phúng dụ chủ yếu có chức năng nhận thức và được dùng trong phong cách văn chương. Khả năng biểu hiện sâu sắc và thâm thúy những ý niệm về triết lí nhân sinh khiến cho phúng dụ có thể tồn tại lâu dài với chúng ta. Viết theo lối phúng dụ là cách viết vừa triết lí lại vừa nghệ thuật, vừa có tính hiện thực sâu sắc lại vừa mang tính truyền thống, nói điều quen thuộc mà ý nghĩa thật sâu xa.
V- Hoán dụ :
1- Khái niệm: Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa bằng cách dùng một đặc điểm hay một nét tiêu biểu nào đó của một đối tượng để gọi tên chính đối tượng đó dựa vào mối quan hệ liên tưởng logic khách quan giữa hai đối tượng.
Ví dụ:
Aó chàm đưa buổi phân ly
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay .
( Việt Bắc - Tố Hữu )
2- Cấu tạo:
2.1- Hình thức: Giống ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ chỉ có một vế biểu hiện, vế được biểu hiện không phô ra.
2.2- Nội dung: Nếu ẩn dụ dựa trên mối quan hệ liên tưởng về nét tương đồng thì hoán dụ dựa vào mối quan hệ có thực, quan hệ tiếp cận. Một số mối quan hệ logic khách quan thường được dùng để cấu tạo nên hoán dụ tu từ:
- Quan hệ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng.
- Quan hệ giữa bộ phận và toàn thể.
- Quan hệ giữa cái chứa đựng và vật được chứa đựng ( cải dung).
- Quan hệ giữa chủ thể và vật sở thuộc.
- Quan hệ giữa số lượng xác định và số lượng không xác định ( cải số ).
- Quan hệ giữa tên riêng và tính cách con người ( cải danh).
3- Chức năng
Hoán dụ chủ yếu có chức năng nhận thức. Biện pháp tu từ này được dùng rộng rãi trong các PCCN tiếng Việt.
VI- Tượng trưng:
1- Khái niệm : Tượng trưng là biện pháp tu từ biểu thị đối tượng định miêu tả bằng ước lệ có tính chất xã hội. Người ta quy ước với nhau rằng từ này có thể được dùng để biểu thị một đối tượng khác ngoài nội dung ngữ nghĩa thông thường của nó.
Ví dụ:
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
Giữa trời vách đá cheo leo
Ai mà chịu rét thì trèo với thông.
( Nguyễn Công Trứ )
2- Cấu tạo:
2.1- Hình thức: Chỉ có một vế biểu hiện giống như ẩn dụ và hoán dụ tu từ.
2.2- Nội dung: Ðược xây dựng trên cơ sở của mối quan hệ liên tưởng tương đồng và logic khác quan.
* Tượng trưng ẩn dụ:
Chênh vênh thẳng đuột bách tùng
Với hàng lau cỏ đứng cùng được sau.
( Nguyễn Công Trứ)
*Tượng trưng hoán dụ:
Ðứng lên thân cỏ thân rơm
Búa liềm đâu sợ súng gươm bạo tàn.
(Tố Hữu)
3- Chức năng Tượng trưng chủ yếu có chức năng nhận thức và chủ yếu được dùng trong phong cách văn chương.
B. Các biện pháp tu từ được cấu tạo theo quan hệ kết hợp
Ðặc điểm chung của những biện pháp thuộc nhóm này là trong văn cảnh cụ thể, nhờ cách sắp xếp từ ngữ theo những mối quan hệ kết hợp nhất định mà có được nội dung biểu hiện bổ sung. Sự đối lập giữa các hình thức kết hợp khác nhau nhằm cùng biểu hiện một thông báo cơ sở là nguyên nhân sinh ra các cách tạo hình, gợi cảm của những biện pháp tu từ được cấu tạo theo quan hệ kết hợp.
I- Ðiệp ngữ:
1-Khái niệm : Ðiệp ngữ là biện pháp lặp đi lặp lại những từ ngữ nào đó nhằm mục đích mở rộng, nhấn mạnh ý nghĩa hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòng người đọc.
Ví dụ:
Cũng cờ, cũng biển cũng cân đai
Cũng gọi ông nghè có kém ai.
( Nguyễn Khuyến )
2-Hình thức Có một số hình thức điệp như : điệp ngữ nối tiếp, điệp ngữ cách quãng.
2.1- Ðiệp ngữ nối tiếp:
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp, ai sầu hơn ai.
( Chinh Phụ Ngâm- Ðặng Trần Côn)
2.2- Ðiệp ngữ cách quãng:
Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi
(Tây Tiến- Quang Dũng)
3-Chức năng: Ðiệp ngữ vừa có chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm. Biện pháp này được dùng rộng rãi trong các PCCN.
II- Phối hợp từ:
1- Khái niệm: Phối hợp từ ( còn gọi là đồng nghĩa kép) là biện pháp tu từ trong đó người ta dùng phối hợp nhiều từ ngữ cùng nghĩa hoặc gần nghĩa nhằm mục đích biểu hiện đầy đủ các phương diện khác nhau của cùng một đối tượng hoặc cùng một nội dung trình bày.
Ví dụ:
Xoè bàn tay bấm đốt
Tính đã bốn năm ròng
Người ta bảo không trông
Ai cũng nhủ đừng mong
Riêng em thì em nhớ.
( Thăm luá -Trần Hữu Thung )
2- Tác dụng :
- Giúp lời văn thêm mạnh, làm cho sự biểu đạt tư tưởng tình cảm đầy đủ, chính xác.
- Thể hiện sự say sưa, nhiệt tình của lời nói, làm tăng thêm tính hùng hồn và hấp dẫn. Tuy nhiên, nếu lạm dụng thì câu văn dễ trở nên nặng nề.
3-Chức năng :
Phối hợp từ có cả chức năng nhận thức và biểu cảm. Biện pháp này thường được dùng trong phong cách văn chương và phong cách chính luận.
III- Tiệm Tiến:
1- Khái niệm: Tiệm tiến là biện pháp tu từ dùng cách sắp xếp các lượng ngữ nghĩa có quan hệ gần gũi nhau theo một trình tự từ nhỏ đến lớn, từ nông đến sâu, từ nhẹ đến mạnh, từ phương diện này đến phương diện kia, hoặc ngược lại trình tự đó. Kết quả là phần đi sau hơn hoặc kém phần đi trước về nội dung ý nghĩa hoặc về sắc thái biểu cảm.
Ví dụ: Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước
( Hồ Chí Minh)
2- Tác dụng: Tiệm tiến có tác dụng tạo nên sự bất ngờ, gây một cảm xúc và một ấn tượng đặc biệt đối với nội dung trình bày bởi vì sự miêu tả cứï tăng dần hoặc giảm dần theo những cung bậc mà người ta không đoán trước được. Ví dụ:
Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái cẩm nang thần kì, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ( Hồ Chí Minh)
3- Chức năng: Tiệm tiến có chức năng nhận thức và biểu cảm. Biện pháp này được dùng nhiều trong phong cách chính luận và phong cách văn chương.
IV- Ðột giáng :
1- Khái niệm: Ðột giáng là biện pháp tu từ gây sự chú ý vào một chi tiết nội dung bằng cách xếp đặt từ ngữ, câu văn sao cho khi chuyển sang chi tiết này thì mạch trình bày bị chuyển đổi một cách đột ngột. Biện pháp này gây nên cảm giác hụt hẫng đối với người tiếp nhận từ đó tạo ra tiếng cười châm biếm, đả kích.
Ví dụ:
Bắt chước ai ta chúc mấy lời
Chúc cho khắp hết cả trên đời
Vua quan sĩ tử người muôn nước
Sao được cho ra cái giống người.
( Khuyết danh )
2- Chức năng: Ðột giáng có chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm. Biện pháp này chủ yếu được dùng trong thơ ca trào lộng, châm biếm, đả kích. Trong văn xuôi chúng ta thấy ít sử dụng biện pháp này.
V- Tương phản:
1- Khái niệm: Tương phản là biện pháp tu từ dùng các từ ngữ biểu thị những khái niệm đối lập nhau cùng để xuất hiện trong một văn cảnh nhằm mục đích làm rõ hơn đặc điểm của đối tượng được miêu tả. Ví dụ:
O du kích nhỏ giương cao súng
Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu
Ra thế to gan hơn béo bụng
Anh hùng đâu cứ phải mày râu.
( Tấm ảnh - Tố Hữu )
2- Chức năng : Tương phản có chức năng nhận thức và biểu cảm. Biện pháp này được dùng nhiều trong các phong cách : chính luận, thông tấn và văn chương .
VI- Im lặng :
1- Khái niệm: Im lặng (hay còn gọi là phép lặng) là biện pháp tu từ dùng sự biểu đạt bằng cách bỏ trống (tín hiệu zêrô). Nhờ ngữ cảnh, nhờ những dòng chữ, những tiếng nói có mặt mà những dòng chữ, những tiếng nói vắng mặt trở nên có nghĩa.( Trong chữ viết, phép lặng được thể hiện bằng dấu ba chấm [...] )
Ví dụ:
Tay em cầm một bông hồng
Ðẹp tươi như thể... trắng trong như là ...
Sao anh như thấy thừa ra
Hoặc bông hồng ấy hoặc là chính em .
( Phạm Công Trứ )
2- Ðặc điểm : Im lặng thường được dùng trong hai trường hợp :
2.1- Diễn tả sự e thẹn, đau khổ, tiếc thương hay sự uất ức nghẹn ngào không nói ra được. Ví dụ:
Bác Dương ...thôi đã...thôi rồi...
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta!
(Khóc Dương Khuê- Nguyễn Khuyến)
2.2- Dùng để châm biếm, đả kích. Ví dụ:
Ðã mang tiết xuất gia
Lại đeo thói nguyệt hoa
Sự mô đâu có thế
... Ma!
( Thơ Yết hậu)
3- Chức năng: Im lặng có hai chức năng là nhận thức và biểu cảm. Biện pháp này thường được dùng trong các phong cách : khẩu ngữ, văn chương...
VII- Khoa trương:
1- Khái niệm: Khoa trương ( hay còn gọi là Ngoa dụ, phóng đại- Hyperbole) là biện pháp tu từ dùng sự cường điệu quy mô, tính chất, mức độ,... của đối tượng được miêu tả so với cách biểu hiện bình thường nhằm mục đích nhấn mạnh vào một bản chất nào đó của đối tượng được miêu tả.
Ví dụ :
Nhác trông thấy bóng anh đây
Ăn chín lạng hạt ớt thấy ngọt ngay như đường.
( Ca dao)
2- Chức năng: Khoa trương có hai chức năng là nhận thức và biểu cảm. Biện pháp này được dùng nhiều trong các phong cách: khẩu ngữ, văn chương, thông tấn...
VIII- Nói giảm:
1- Khái niệm: Nói giảm ( còn được gọi là nhã ngữ hay khinh từ) là biện pháp tu từ dùng hình thức biểu đạt giảm bớt mức độ hơn , nhẹ nhàng hơn, mềm mại hơn để thay thế cho sự biểu đạt bình thường cần phải lảng tránh do những nguyên nhân của tình cảm. Nói giảm không có phương tiện riêng mà thường được thực hiện thông qua các hình thức ẩn dụ hay hoán dụ tu từ.
Ví dụ:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành (Tây Tiến - Quang Dũng)
Biện pháp tu từ này thường được dùng để nói về cái chết.
2- Chức năng : Nói giảm có chức năng nhận thức và biểu cảm. Biện pháp này được dùng nhiều trong các phong cách : khẩu ngữ, văn chương, chính luận...
IX- Chơi chữ:
1- Khái niệm: Chơi chữ ( pun) là biện pháp tu từ vận dụng linh hoạt các tiềm năng về ngữ âm , chữ viết, từ vựng , ngữ pháp của tiếng Việt nhằm tạo nên phầìn tin khác loạüi tồn tại song song với phần tin cơ sở. Phần tin khác loại này- tức lượng ngữ nghĩa mới- là bất ngờ và về bản chất là không có quan hệ phù hợp với phần tin cơ sở.
Ví dụ:
Con công đi chùa làng kênh
Nó nghe tiếng cồng nó kềnh cổ lại.
( Ca dao )
Có nhiều hình thức chơi chữ: Chơi chữ bằng phương tiện ngữ âm, chữ viết, từ vựng, cú pháp...Bài thơ Tình hoài của Lê Ta là một ví dụ về cách chơi chữ bằng phương tiện ngữ âm (điệp thanh):
Trời buồn làm gì trời rầu rầu
Anh yêu em xong anh đi đâu?
Lắng tiếng gió, suối, thấy tiếng khóc
Một bụng một dạ một nặng nhọc
o tưởng chỉ để khổ để tủi
Nghĩ mãi gỡ mãi lỗi vẫn lỗi
Thương thay cho em căm thay anh
Tình hoài càng ngày càng tày đình.
2- Chức năng: Chơi chữ có cả hai chức năng nhận thức và biểu cảm. Biện pháp này thường được dùng để châm biếm, đả kích hoặc để đùa vui. Nó thường được dùng trong các phong cách như : khẩu ngữ, chính luận, văn chương.
X- Nói lái:
1- Khái niệm: Nói lái là biện pháp tu từ dùng cách đánh tráo phụ âm đầu, vần và thanh điệu giữa hai hay nhiều âm tiết để tạo nên những lượng ngữ nghĩa mới bất ngờ, nhằm mục đích châm biếm, đùa vui. Ðây là hình thức chơi chữ đặc biệt của các ngôn ngữ phân tiết như tiếng Việt.
Ví dụ:
Cam sành nhỏ lá thanh ương
Ngọt mật thanh đường nhắm lớ bớ anh
Thanh ương là tuổi mong chờ
Một mai nhái lặn chà quơ, quơ chà.
( Ca dao )
Về lí thuyết, khi có hai âm tiết ta đã có thể nói lái. Tuy nhiên, nói lái chỉ trở thành một biện pháp nghệ thuật nếu nó đem đến cho ta một nội dung ngữ nghĩa mới bất ngờ. Ví dụ: Vũ Như Cẩn là Vẫn như cũ; Bùi Lan là Bàn lui...
2- Chức năng : Nói lái có cả hai chức năng nhận thức và biểu cảm. Biện pháp này chủ yếu được dùng trong PC khẩu ngữ và văn chương.
XI- Dẫn ngữ- Tập Kiều :
1- Dẫn ngữ :
1.1- Khái niệm: Dẫn ngữ là biện pháp dùng những điển cố, thành ngữ, tục ngữ, danh ngôn hoặc thơ văn có giá trị, có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống ngôn ngữ và cuộc sống tinh thần của một tập thể người nhằm thuyết minh một vấn đề mới, biểu hiện một tư tưởng, tình cảm mới, làm cho cách kiến giải của người nói, người viết thêm sức thuyết phục.
Ví dụ:
Thâm nghiêm kín cổng cao tường
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.
1.2- Chức năng : Dẫn ngữ có chức năng nhận thức và biểu cảm. Biện pháp này được dùng trong các PC : khẩu ngữ , chính luận , văn chương...
2- Tập Kiều:
2.1- Khái niệm : Tập Kiều là hình thức dẫn ngữ đặc biệt. Ở đây người ta sử dụng những ý hoặc lời trong truyện Kiều, một tác phẩm mà mọi người Việt Nam đều quen biết, đều thuộc lòng ít nhiều để tạo nên sắc thái Kiều trong sự biểu đạt của lời nói.
Ví dụ :
Có tiền mà cậy chi tiền
Có tiền như Mỹ cũng phiền lắm thay . ( Hồ Chí Minh )
Nguyên văn Kiều :
Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
2.2- Tác dụng :
- Tạo nên màu sắc Kiều, không khí Kiều, sự đồng cảm giữa người nói và người nghe.
- Tạo nên sự dễ dàng thông hiểu, sự liên tưởng mạnh mẽ.
2.3- Chức năng : Tập Kiều có chức năng nhận thức, chức năng biểu cảm và chủ yếu được dùng trong PCVC.

Nguồn : ngonngu.net